Không hề gì

Vợ: Ông xã ơi, làm sao đây? Sanh cu Huy xong bây giờ thân hình em nó như thế này. Vòng một càng teo tóp, vòng hai thì phì nhiêu. Khổ thân ông xã hết chỗ để ” sờ nắn ” rồi.

Ông xã:. Thay vì như hồi xưa đật tay lên vòng một thì bây giờ cứ xịch cái tay xuống chút xíu là tới vòng hai, thiếu gì chỗ để xoa với nắn. Với anh chẳng hề hấn gì cả .
Nửa bực mình, nửa mắc cười với sự dí dỏm của ổng.

Kimchi cải thảo ( loai không cay)

Cứ nghĩ Kimchi khi làm không cho bột ớt vào thì thành Kimchi không cay là lầm nhé. Kimchi không cay tiếng Hàn gọi là Baek-Kimchi. Baek-Kimchi là món ăn mỗi ngày của vua chúa ngày xưa . Thời mà họ chưa có traí ớt, bột ớt như bây giờ.
Kimchi là phải cay, đó là suy nghĩ của Phương đó giờ nên khi về Hàn quốc , đi ăn nhà hàng hay mẹ chồng có làm Baek-Kimchi nhưng mình không hề đoái hoài gì tới . Nhưng từ hồi thằng nhóc tì 22 tháng cứ nằng nặc đòi ăn Kimchi, thì trong đầu mới nhen nhóm ý tường làm Baek-Kimchi không cay.

Tính ra thì làm Baek-Kimchi không cay này làm cực hơn loaị Kimchi thường vì các nguyên vật liệu hoàn toàn khác và phải dùng dao xắt tất cả thật nhuyễn từ tỏi, hành , gừng … chứ không bỏ hết vào máy xay . 
Nguyên vật liệu
1 Cải thảo lớn 
1 Củ cải trắng
10g Gừng
4 nhánh Hành lá
30g Cần nước (tiếng Hàn gọi là Minari)
6 tép tỏi
5 trái táo tàu khô
5 hạt dẻ ( Chest nut, Maronen) . 
1/2  trái lê (Asian pear)
1 muỗng canh mắm tép
Muối cải: cải thảo chẻ đôi, hoặc chẻ làm tư. Ngâm vào hỗn hợp nước muối. tỉ lệ 1 cup muối : 12 cup nước. sau 6 tiếng rửa lại hai lần qua nước lạnh. Để ráo trong vòng 1tiếng.

Làm nước sốt mắm tép :
1 muỗng canh mắm tép pha với 1 cup nước. cho vào xoong nhỏ nối sôi bùng lên tắt bếp, nhắc xuống ngay .

 Lọc qua rây hay túi vải để thật nguội.
Chuần bị phần nhân: 
1 Củ cải trắng
10g Gừng
4 nhánh Hành lá
30g Cần nước (tiếng Hàn gọi là Minari)
6 tép tỏi
5 trái táo tàu khô
5 hạt dẻ ( Chest nut, Maronen) . 
1/2  trái lê (Asian pear)
Tất cả xắt sợi thật nhuyễn. Cho vào thau ướp vào 1 muỗng cafê muối, 1 muỗng canh đường. trộn đều.
Cho nhân vào từng lá cải thảo:


Khi cho hết phần nhân vào từng lá cải , cho cải vào keo. Bước cuối cùng mới rưới nước mắm tép hồi nãy đã nấu để nguội vào keo. 
Đậy nắp, không cần vặn quá kín. Để nhiệt độ phòng 48 tiếng (lâu hơn loại Kimchi thường). Sau đó cho vào tủ lạnh sau 5 ngày có thể ăn. 

Ghi chú
Không có Chest nut thì các bạn có thể thay thế bằng khoai lang.
Nước sốt mắm tép tuyệt đối phải để thật nguội .
Cải thảo khi rửa không nắn bóp chắt nước vô tình làm dập cải. Cải sẽ không giòn mà bị mềm nhũn khi ăn.
Nếu không có mắm tép Hàn quốc, các bạn thử thay thế bằng 2 muỗng canh nước mắm xem sao. Tức là  2 muỗng canh nước mắm cho vào 1cup nước nấu sôi để nguội. 
 CHU´C CA´C BAN THA`NH CÔNG!

Nguyên vật liệu căn bản

Tiếng Hàn Quốc : 간장 (Gan-jang)
Tên tiếng Anh : Soy sauce
Tiếng Đức : Soja Soße

Cũng như nước mắm là gia vị chính trong ẩm thực Việt thì nước tương(Gan-jang) là gia vị thiết yếu cho ẩm thực hàn. Như nước mắm thì nước tương cũng có nhiều hiệu khác nhau, nhiều nồng độ, nhiều nồng độ. Tùy vào cách chế biến món ăn như thế nào, dùng để nấu súp, kho , hay xào, ăn sống.
Nhưng đối với P , P dùng nước tương ” đa chức năng” để đỡ viêm màng túi. Vì những gia vị Hàn Quốc không phải rẻ.

Tương ớt
Tiếng Hàn : 고추장 ( Go-ju-jang)
Tiếng Anh: Red Chili Pepper Paste

Một nhân tố quan trọng, có mặt trong hầu hết các món ăn Hàn Quốc mà ta không thể không nhắc tới chính là tương ớt Go ju jang. Tương ớt Go ju jang không chỉ đơn giản là Ớt đem đi xay ra là tương mà nó là cả một quá trình thực hiện, ủ lên men công phu từ mầm lúa mạch, đậu tương , ớt khô, muối , nước…

Tương đậu nành hay còn gọi là tương Miso 
Tiếng Hàn: 된장 (Doen-jang), Miso là cách gọi theo tiếng Nhật
Tiếng Anh : Soybean Paste

Ở Hàn Quốc các bà , các cụ thường tự làm tương đậu nành. Nên món tương này từ vùng sang vùng, từ nhà này sang nhà khác ₫ều có hương vị đặc trưng riêng . Giống như người Việt xa quê nhớ món canh chua cá kho tộ của mẹ nấu thì người Hàn Quốc xa quê sẽ nhớ món canh tương đậu Doen Jang của gia đình mình. Ngày nay vô siêu thị ta kiếm được rất nhiều hiệu chủng loai tương Doen Jang nhưng P vẫn nhớ nhất món tương đậu của mẹ chồng tự làm.


Tảo biển
TIếng Hàn : 다시마 (Da-shi-ma)
Tiếng Anh: Dried Kelp

Loại tảo biển này có thể ví như phổ tai việt nam. Nhưng tất nhiên họ không dùng để nấu chè mà họ kết hợp với Củ cải và cá cơm để nấu nước lèo căn bản cho vài món canh,bún, lẩu… Thường cho nồi nước 2lít chỉ cần bẻ ra miếng nhỏ khoảng 7x7cm, nấu trong vòng 10-15 phút là vớt ra bỏ, chỉ lấy nước.

Mắm tép Hàn Quốc
Tiếng Hàn: 새우젓 (Se-u-jot)
Tiếng Anh: Salted shrimp sauce. Đến bây giờ như P được biết thì mắm tép chỉ sử dụng trong vài ba món. Thông thường nhất là người Hàn dùng mắm tép Se-u-jot cho vào hỗn hơp sốt muối dưa Kimchi. Ngoài ra họ cũng pha mắm tép với tỏi, đường, ớt bằm để làm nước sốt chấm thịt luộc, phá lấu giò heo.

Miếng Hàn Quốc
Tiếng Hàn : 잡채 (Chap-chae)
Tiếng Anh: Sweet Potato Noodle

Bột ớt Hàn Quốc
Tiếng Hàn : 고추가루  ̣(Go Ju Ga ru)
Tiếng Anh: Hot Chili Pepper Powder

Lá rong biển để cuộn sushi, Kimbap.Tiếng Hàn: 김 (Kim)Tiếng Anh: Roasted Seaweed
                                                                                                          Dầu ớt.                                                                                                Tiếng Hàn : 고추기름 ( Go ju gi reum),                                            Tiếng Anh : Red Chili Oil
Rong biển .Tiếng Hàn: 미역 (Mi-eot), Tiếng Anh: Seaweed. Rong biển thường được bán dạng khô, trước khi nấu canh chỉ cần ngâm trong nước chừng 15 phút cho nở.Một nồi canh rong biển thì chỉ 20g rong biển dạng khô là nấu nở ra một nồi thật to. Ngoài ra người Hàn quốc còn dùng Rong biển trộn salad. Nhưng để ăn kiểu Salad thì người ăn phải thật sự ăn quen và yêu thích rong biển mới thấy ngon. Không thôi sẽ cảm thấy vị tanh rất khó chịu. Cách ngon nhất chế biến rong biển là nấu với thịt bò, rất ngon và bổ dưỡng.
      Chả cá
Tiếng Hàn: 어묵 hoặc 오뎅
Tiếng Anh : Fish cake 
Chả cá Hàn quốc ít nặng mùi cá hơn chả cá của người Việt mình vì trong đó thành phần bột hơi nhiều. Chả cá có nhiều hình dạng như dạng miếng, viên, khúc dài, dạng ống, hoặc fish cake mixed. Chế biến món này rất đơn giản như là xào, nấu canh, hoặc ăn chung với bánh gạo.
Bánh gạo ,                                                      Tiếng Hàn : 떡볶이 (Ddot-bok-gi)               Tiếng Anh: Rice cake.                                    Bánh gạo có dạng thon dài như trong hình dùng cho món Ddot bok gi. Cũng có loai bánh gạp dạng miếng thì dùng nấu súp. 
Tương đen Hàn Quốc                                    Tiếng Hàn: 짜장 (Ja jang)                                    Tiếng Anh: Black soybean paste                       Ngoài việc sử dụng món tương đen này cho món mì tương đen thì thật ra đến giờ P chưa ăn hoặc chưa biết thêm món nào có dùng tương này. Hiệu tương đen nổi tiếng nhất là hiệu Lion. 
Dưa củ cải                                                         Tiếng Hàn: 단무지 (Dan-mu-chi)                         Tiếng Anh: Pickled Radish                                 Trong siêu thị bán loai Dưa củ cải loai sợi để sử dụng trong món Kimbap, sushi. Dưa củ cải cũng có bán loai nguyên trái, hoặc đã xắt lát sẵn. Người Hàn Quốc thường ăn dưa củ cải kèm với Mì tương đen.
Thịt cua Surimi                                                   Tiếng Hàn: 게맛살 (Gae Mat sal)                            Tiếng Anh: Imitation Crab stick                          

Có thể tạm gọi là thịt cua giả. Vì thật ra món này chế biến từ cá hỗn tạp, bột, và hương vị thịt cua. Hoặc nếu có thịt cua thì chỉ rất ít. Ở Hàn Quốc thì P được biết món này thực sự có thịt cua trong đó. Tùy theo “nồng độ”thịt cua trong đó mà giá thành sẽ cao hơn. Ví dụ loai 50% tất nhiên sẽ rẻ hơn nhiều so với loại 90% . Các bạn có thể đọc ở ngoài bao bì.

Xi rô ngô
Tiếng Hàn: 물엿 (Mul Yeot)
Tiếng Anh: Corn Syrup

Xi rô ngô làm từ tinh bột ngô, thường được sử dụng trong ướp thịt, pha nước sốt, xào…ít bị khét và tốt cho sức khỏe hơn là dùng đường cát trắng.

Bột bánh xèo HQ. 부침가루 (MuJimGaRu)

Cooking wine Mirim. Vị ngọt ngọt. ƯỚp thịt sẽ thơm và mềm.

Bột cá Bonito Soup Stock. Dùng để nấu món Nhật như súp Miso, nước lèo cho mì Udon…

Dried Bonito Fish Flakes

GIẢI THÍCH VỀ CÁC LOẠI GIA VỊ NƯỚC SỐT HÀN QUỐC

Văn hóa ẩm thực Việt- Hàn

Cả người Hàn Quốc và người Việt nam đều ăn cơm làm từ gạo và sử dụng đũa (chủ yếu là đũa sắt). Đến bữa ăn, cả gia đình cùng tập trung và ăn chung đĩa thức ăn ( người Nhật ăn riêng). Những người ít tuổi hơn mời người lớn tuổi hơn ăn trước và sau khi người lớn tuổi bắt đầu thì người nhỏ tuổi hơn mới bắt đầu ăn.

Ngoài những điểm chung nói trên thì có rất nhiều điểm khác biệt trong văn hóa ăn uống thường ngày của hai nước. người Hàn Quốc thường ăn cơm nấu từ gạo nếp trộn với gạo tẻ nên cơm rất dẻo, họ còn có cơm ngũ cốc “okok bap” (cơm nấu từ 5 loại ngũ cốc). Trong khi đó, người Việt nam thường chỉ ăn cơm nấu bằng gạo tẻ và cơm khô hơn một chút, thường vào những ngày đặc biệt thì mới nấu cơm nếp.

Ở Hàn Quốc có rất nhiều loại gia vị, đặc biệt, họ thường sử dụng bột ớt và có loại nước tương “kan chang”. Ở Việt Nam, gia vị không thật nhiều nhưng có một loại nước chấm đặc biệt là nước mắm và để cho món ăn có hương vị thơm ngon hơn, khi nấu ăn có nhiều loại rau, củ, quả cho thêm vào như: hành, nghệ, cà chua, dứa, chuối…Ở Hàn Quốc, kim chi có nhiều loại đa dạng và thường ăn cùng trong bữa cơm. Còn ở Việt Nam, trong bữa ăn nhất định phải có rau tươi, có thể chế biến nhiều món như: rau luộc, rau xào, canh rau… và cũng có một số món tương tự như kim chi: dưa muối, cà muối, hành muối…


Vào mùa hè, khi ăn cả người Hàn Quốc và người Việt Nam đều uống nước nhưng cách thức cũng khác nhau. Người Hàn Quốc vừa ăn vừa cầm cốc nước lạnh và uống. Người Việt Nam thì thường chan nước rau luộc hoặc canh vào bát và ăn cùng với cơm, hoặc sau khi ăn sẽ chan nước canh vào bát, uống riêng.

Người Hàn Quốc sử dụng cả đũa và thìa nên không cần cầm bát lên. Người Việt mình thì thường chỉ sử dụng đũa nên dù ăn cơm hay canh cũng cầm bát lên ăn. Vì vậy, cái trôn bát của mình thường cao để người ăn không bị nóng. Cũng vì việc sử dụng thìa, đũa mà người Hàn Quốc  thường để thức ăn lên bàn, trong khi người Việt Nam thường  để thức ăn vào mâm rồi có thể đặt trên bàn, trên chiếu, kể cả trên sàn nhà và ngồi ăn. Vẫn còn chuyện liên quan đến thìa, đũa nữa là khi ăn, người Hàn Quốc thường có cái để đặt thìa đũa lên, gọi là “sut ka rak bat schim” (숟가락 받침) còn người Việt thường để đũa trên mâm hoặc trên bát.
 
Sau khi ăn, người Hàn Quốc không bao giờ bỏ đi thức ăn thừa mà cất cẩn thận để sau đó ăn tiếp. Tại sao lại như vậy ? mấy chục năm trước người Hàn Quốc còn rất khó khăn, vì vậy họ đã hình thành tính tiết kiệm. Mặt khác, vì người Hàn Quốc thường ăn sáng ở nhà nên thức ăn còn lại hôm trước thường để ăn sáng hôm sau. Hiện nay, với cuộc sống hiện đại, người Hàn Quốc thường không đi chợ nhiều, họ thường đi một lần, mua rất nhiều thứ và để vào tủ lạnh nên tủ lạnh của họ thường rất to. Người Việt nam  mình thì thường chỉ cất một số món vào trong tủ lạnh, các món rau hay canh thường ăn hết hoặc cho chó, mèo, hoặc bỏ đi. Có vẻ người Việt Nam mình lãng phí hơn người Hàn. Người Việt Nam thường hôm nào cũng đi chợ, mua những đồ tươi sống để nấu và không thích những thức ăn để lâu trong tủ lạnh. Và người Việt nam mình còn có cả thói quen ăn sáng ở ngoài nữa.

Sau khi ăn xong, cả người Hàn Quốc và người Việt thường có thói quen ăn hoa quả, gọi là tráng miệng. Sau đó, người Hàn Quốc thường uống một loại nước quế, hoặc cà phê còn người Việt nam mình lại hay uống trà.

Văn hóa ăn uống thường ngày không phải là vấn đề lớn nhưng nếu tìm hiểu một chút cũng thấy có nhiều thú vị. Nó cũng phần nào phản ánh những nét độc đáo của văn hóa hai nước Việt nam – Hàn Quốc.

Mì tương đen Jajang

Nói tới Mì tương đen là Phương nhớ tới thời mới yêu nhau. Ông xã hồi đó lần đầu trổ tài món này cho bà xã ăn. Mì gì đen thui, sền sệt thấy ghê. Mãi đến ăn lần thứ hai , thứ ba mới bắt đầu mê. Ăn mì này phải kèm theo Kimchi, dưa cải muối Hàn Quốc, hông thôi cũng ngán.
Nguyên vật liệu: 3 người ăn.
– 2 vắt Mì Jajang (loaị mì này bên Mỹ chợ HQ như H-Mart nào cũng có, ở Vn thì P không rành mua ở đâu),
-Seafood mix 2 cup ( hoặc 200g thịt heo ba rọi)
-150g củ khoai tây lớn
-150g mướp xanh Zucchini
-150g bắp cải
-1/2 củ hành tây khoảng 100g xắt quân cờ vuông vuông,
Gia vi:
– 1 muỗng cafê Tỏi băm.
– 2 muỗng canh Tương Jajang,
– 2 muỗng canh dầu hào Oyster sauce
– 1 muỗng canh bột năng
Giai đoạn xào sơ tương.
Bắt xoong nhỏ lên bếp. Cho 2 muỗng canh dầu ăn,đợi dầu nóng,cho 2 muỗng canh tương đen jajang+ 1muỗng cafe đường vào xào nhanh tay chừng 30 giây nhắc xuống ngay.

 Giai đoạn luộc mì: 
nước sôi, 1 muỗng cafê dầu ăn. Mì đã để xã đá chừng nửa tiếng trước đó cho vào luộc chừng 5-7 phút, không đậy nắp. (Cẩn thạn giai đoạn nấu mì rất dễ bị trào). Xã mì lại qua nước lạnh để ráo nước. Mì nấu xong dể dính vào nhau nên thường xuyên dùng đũa xới đều. Chỉ nên luộc mì sớm nhất nửa tiếng trước khi ăn. Để lâu mì nở mềm, mất dần độ dai.

 Giai đoạn xào rau củ:

Bắc chảo cho 3 muỗng canh dầu ăn, lần lượt cho 1 muỗng cafê tỏi băm, rau củ vào xào đều. Kế tiếp cho Seafood mix. Nêm vào:
– 2 muỗng canh dầu hào
– phần tương jajang đã xào sơ hồi nãy vào.
Xào chừng vài ba phút thì  cho 2 chén nước sôi 500ml vào nấu lửa riêu riêu chừng 10 phút.

Pha 1 muỗng canh bột năng hay bột bắp vào 3 muỗng canh nước cho vào chảo để tạo độ sánh cho nước sốt.

( Nếu dùng thịt ba roị thì cho thịt vào chảo chiên lên như làm tép mỡ, thịt vừa vàng thì vớt ra . Chỉ lấy phần thịt cho vào phần rau củ xào chung, lượt bỏ phần nước mỡ heo)

Nếu chưa ăn thì bạn nên tắt bếp để đó , chừng nào ăn mới nấu nước sốt sôi trở lại. Một là cho mì vào đảo sơ rồi trút ra tô. Hai là cho mì vào tô rồi chế nước sốt lên. Trước khi ăn chan lên mì 1 muỗng cafê  dầu mè. Cho ít dưa leo xắt sợi lên trên.

Bữa tối hôm đó là mì Jajang ăn kèm với Kimchi, và dưa cải muối.

Nhóc tì ăn mì tương đen đây. Các mẹ nào cho con ăn món này phải biết là sau đó công đoạn chùi rửa cũng rất cực. Nhưng cứ để bé ăn và nghịch thoải mái cho vui.
Ghi chú:
– Bạn nào ở Đức khó kiếm được nguyên vật liệu cho món này thì vẫn có thể ra chợ châu á tìm mua mì Jajang ăn liền. Về  nhà bỏ công biến tấu một chút vẫn sẽ có tô mì Jajang rất ngon. Trong gói mì ăn liền họ chỉ có bịt bột tương đen, một bịt dầu ăn, và mì. Cách làm nước sốt để chan vô mì cũng giống như P chỉ như trên,chỉ có điều mình chỉ cần cho bịt bột tương đen có sẵn vào phần rau củ đã xào chín. Mì thì luộc theo hướng dẫn ngoaì bao bì. Cuối cùng cho goí dầu ăn nhỏ nhỏ vào.
– Phương có nêm thêm tí xíu nước mắm khi xào rau củ, sẽ dậy mùi thơm rất thơm ngon.
– Bạn có thể thay thế Seafood mix bằng 200 thịt heo xắt hạt lựu , cũng rất ngon.
– Vài nhà hàng họ có cho thêm đậu hà lan, bắp hạt lon vào phần nước sốt cho món mì này.
 
Như các bạn đã biết 14/2 là lễ tình nhân. Ở HQ phụ nữ thường tặng đàn ông kẹo sôcôla. Một tháng sau 14/3 đàn ông sẽ tặng lại phụ nữ . Jajang là món ăn chính trong “Ngày đen đối với tình yêu” ở HQ 14/4. Đây là ngày dành cho những người độc thân. Họ thường mặc đồ đen, dùng bữa trưa là một bát mì Jajang lớn với ý nghĩa đồng cảm từ những trái tim cô đơn. 
Bình thường không có gia đình nào tự nấu mì Jajang ở nhà ăn cả. Đây là món họ thường ăn ở quán, hoặc ăn Home Delivery ( Heimservice), tức là chỉ cần gọi điện thoai , nửa tiếng sau sẽ có người mang mì đến tận nhà. 
 
Chúc các bạn thành công!

Canh rong biển thịt bò

https://youtu.be/rQ5eywGCQgI

Món canh rong biển thịt bò nấu rất đơn giản nhưng rất bổ dưỡng. Rong biển khô giàu chất xơ, đạm, chất khoáng, canxi cao 4 lần so với sữa bò, Vitamin A cao 2 lần so với cà rốt, giàu Iốt là khoáng chất cần thiết cho tuyến giáp phòng bệnh bứu cổ, Vitamin B2 cao 4 lần so với trong trứng… Ở Việt Nam phụ nữ sau khi sinh nở ăn đu đủ xanh để lợi sữa thì ở Hàn Quốc phụ nữ sẽ ăn canh rong biển mỗi ngày trong vài tuần đầu. Canh rong biển không những giàu dưỡng chất giúp hồi phục sức khoẻ nhanh,mà còn bổ máu, giảm cholesterol trong máu ngăn ngừa bệnh về tim mạch cao huyết áp. Đặc biệt khoáng chất trong rong biển cung cấp nhiều dưỡng chất cho da và tóc. Nên ngày nay rong biển được biết đến nhiều hơn khi nó được sử dụng trong ngành công nghiệp mỹ phẩm làm đẹp.
Ở Hàn Quốc, rong biển được đưa vào thực đơn ăn dặm cho bé khá sớm. Canh rong biển là món canh ruột của Cu cậu nhà mình.  Đối với vài người lần đầu ăn sẽ chê tanh mùi rong biển. Nhưng khi ăn riết quen sẽ ghiền. Theo phong tục của người Hàn Quốc, ngày sinh nhật phải ăn canh rong biển. Nhớ có hôm về Hàn Quốc gia đình ăn tối món mì hải sản. Nhưng vì hôm đó cũng là sinh nhật của ông xã nên mẹ chồng vẫn phải nấu đúng một tô canh rong biển cho ông xã. Ổng tuy hôm đó thèm ăn mì, nhưng vì là sinh nhật mình nên phải ăn cho kì hết chén canh rong biển mới được ăn mì. Thôi dài dòng quá, chúng ta bắt tay vào nấu nào.

Nguyên liệu : 300 thịt bò, 20g  rong biển, tỏi băm, hành lá, 2 lit nước.

Đây là gói rong biển khô hiệu Hàn Quốc. Tên tiếng Hàn gọi là Mi-eot (미역)
Rong biển ngâm chừng 20 cho nở, rửa sạch , cắt ngắn vừa miệng ăn.

Bắt nồi lên bếp, cho 2 muỗng canh dầu ăn, 1muỗng cafê tỏi băm, thịt bò vào xào đều cho chín tái. Cho rong biển vào xào chung. Nêm vào 1 cafê muối, 1 muỗng cafê hạt nêm từ thịt.

Cho 2 nước vào. Nấu lửa vừa cho sôi lại, hớt bọt. Nấu trong vòng 15 phút , cho vào nồi muỗng canh nước tương Hàn Quốc và 1 muỗng cafê dầu mè. Nấu riêu riêu đậy hí nắp thêm chừng 5 phút. Cuối cùng cho hành lá ,  tắt lửa. XONG

Cu cậu(22 tháng)ăn món canh khoaí khẩu đây.Lúc chụp hình là thiếu món Kimchi. Cu cậu ghiền Kimchi như con nít đòi ăn kẹp sôcôla vậy. Món canh này cu cậu ăn lúc từ nhỏ nên ghiền lắm. Nếu các mẹ nấu món canh cho bé ăn dặm thì nên cắt rong biển nhỏ hơn nữa, nấu lâu thêm một chút thì rong biển và thịt bò sẽ mềm cho bé dễ ăn hơn. Nếu bé chưa nhai được thịt bò thì vớt thịt ra dùng cối giã nhuyễn cho vào lại chén canh. Có thể cho thêm tàu hủ non vào.
Món canh này người Hàn Quốc cũng có khi nấu chung với nghêu, hoặc Hào (Oyster) cũng rất ngon và bổ. Khẩu vị gia đình nhà mình thì khi canh nấu xong cho thêm nửa muỗng tỏi băm nữa. Tùy khẩu vị gia đình mà gia giảm lượng muối. Nhưng món này ăn lạt lạt, không nên nêm quá mặn.