Vợ: Ông xã ơi, làm sao đây? Sanh cu Huy xong bây giờ thân hình em nó như thế này. Vòng một càng teo tóp, vòng hai thì phì nhiêu. Khổ thân ông xã hết chỗ để ” sờ nắn ” rồi.
Category: Uncategorized
Kimchi cải thảo ( loai không cay)
Cứ nghĩ Kimchi khi làm không cho bột ớt vào thì thành Kimchi không cay là lầm nhé. Kimchi không cay tiếng Hàn gọi là Baek-Kimchi. Baek-Kimchi là món ăn mỗi ngày của vua chúa ngày xưa . Thời mà họ chưa có traí ớt, bột ớt như bây giờ.
Kimchi là phải cay, đó là suy nghĩ của Phương đó giờ nên khi về Hàn quốc , đi ăn nhà hàng hay mẹ chồng có làm Baek-Kimchi nhưng mình không hề đoái hoài gì tới . Nhưng từ hồi thằng nhóc tì 22 tháng cứ nằng nặc đòi ăn Kimchi, thì trong đầu mới nhen nhóm ý tường làm Baek-Kimchi không cay.
Làm nước sốt mắm tép :
1 muỗng canh mắm tép pha với 1 cup nước. cho vào xoong nhỏ nối sôi bùng lên tắt bếp, nhắc xuống ngay .
Nguyên vật liệu căn bản
Tiếng Hàn Quốc : 간장 (Gan-jang)
Tên tiếng Anh : Soy sauce
Tiếng Đức : Soja Soße
Cũng như nước mắm là gia vị chính trong ẩm thực Việt thì nước tương(Gan-jang) là gia vị thiết yếu cho ẩm thực hàn. Như nước mắm thì nước tương cũng có nhiều hiệu khác nhau, nhiều nồng độ, nhiều nồng độ. Tùy vào cách chế biến món ăn như thế nào, dùng để nấu súp, kho , hay xào, ăn sống.
Nhưng đối với P , P dùng nước tương ” đa chức năng” để đỡ viêm màng túi. Vì những gia vị Hàn Quốc không phải rẻ.
Tương ớt
Tiếng Hàn : 고추장 ( Go-ju-jang)
Tiếng Anh: Red Chili Pepper Paste
Một nhân tố quan trọng, có mặt trong hầu hết các món ăn Hàn Quốc mà ta không thể không nhắc tới chính là tương ớt Go ju jang. Tương ớt Go ju jang không chỉ đơn giản là Ớt đem đi xay ra là tương mà nó là cả một quá trình thực hiện, ủ lên men công phu từ mầm lúa mạch, đậu tương , ớt khô, muối , nước…
Ở Hàn Quốc các bà , các cụ thường tự làm tương đậu nành. Nên món tương này từ vùng sang vùng, từ nhà này sang nhà khác ₫ều có hương vị đặc trưng riêng . Giống như người Việt xa quê nhớ món canh chua cá kho tộ của mẹ nấu thì người Hàn Quốc xa quê sẽ nhớ món canh tương đậu Doen Jang của gia đình mình. Ngày nay vô siêu thị ta kiếm được rất nhiều hiệu chủng loai tương Doen Jang nhưng P vẫn nhớ nhất món tương đậu của mẹ chồng tự làm.

Tảo biển
TIếng Hàn : 다시마 (Da-shi-ma)
Tiếng Anh: Dried Kelp
Loại tảo biển này có thể ví như phổ tai việt nam. Nhưng tất nhiên họ không dùng để nấu chè mà họ kết hợp với Củ cải và cá cơm để nấu nước lèo căn bản cho vài món canh,bún, lẩu… Thường cho nồi nước 2lít chỉ cần bẻ ra miếng nhỏ khoảng 7x7cm, nấu trong vòng 10-15 phút là vớt ra bỏ, chỉ lấy nước.
Mắm tép Hàn Quốc
Tiếng Hàn: 새우젓 (Se-u-jot)
Tiếng Anh: Salted shrimp sauce. Đến bây giờ như P được biết thì mắm tép chỉ sử dụng trong vài ba món. Thông thường nhất là người Hàn dùng mắm tép Se-u-jot cho vào hỗn hơp sốt muối dưa Kimchi. Ngoài ra họ cũng pha mắm tép với tỏi, đường, ớt bằm để làm nước sốt chấm thịt luộc, phá lấu giò heo.
Miếng Hàn Quốc
Tiếng Hàn : 잡채 (Chap-chae)
Tiếng Anh: Sweet Potato Noodle
Bột ớt Hàn Quốc
Tiếng Hàn : 고추가루 ̣(Go Ju Ga ru)
Tiếng Anh: Hot Chili Pepper Powder
Rong biển .Tiếng Hàn: 미역 (Mi-eot), Tiếng Anh: Seaweed. Rong biển thường được bán dạng khô, trước khi nấu canh chỉ cần ngâm trong nước chừng 15 phút cho nở.Một nồi canh rong biển thì chỉ 20g rong biển dạng khô là nấu nở ra một nồi thật to. Ngoài ra người Hàn quốc còn dùng Rong biển trộn salad. Nhưng để ăn kiểu Salad thì người ăn phải thật sự ăn quen và yêu thích rong biển mới thấy ngon. Không thôi sẽ cảm thấy vị tanh rất khó chịu. Cách ngon nhất chế biến rong biển là nấu với thịt bò, rất ngon và bổ dưỡng.
Chả cá Hàn quốc ít nặng mùi cá hơn chả cá của người Việt mình vì trong đó thành phần bột hơi nhiều. Chả cá có nhiều hình dạng như dạng miếng, viên, khúc dài, dạng ống, hoặc fish cake mixed. Chế biến món này rất đơn giản như là xào, nấu canh, hoặc ăn chung với bánh gạo.
Bánh gạo , Tiếng Hàn : 떡볶이 (Ddot-bok-gi) Tiếng Anh: Rice cake. Bánh gạo có dạng thon dài như trong hình dùng cho món Ddot bok gi. Cũng có loai bánh gạp dạng miếng thì dùng nấu súp.
Tương đen Hàn Quốc Tiếng Hàn: 짜장 (Ja jang) Tiếng Anh: Black soybean paste Ngoài việc sử dụng món tương đen này cho món mì tương đen thì thật ra đến giờ P chưa ăn hoặc chưa biết thêm món nào có dùng tương này. Hiệu tương đen nổi tiếng nhất là hiệu Lion.
Dưa củ cải Tiếng Hàn: 단무지 (Dan-mu-chi) Tiếng Anh: Pickled Radish Trong siêu thị bán loai Dưa củ cải loai sợi để sử dụng trong món Kimbap, sushi. Dưa củ cải cũng có bán loai nguyên trái, hoặc đã xắt lát sẵn. Người Hàn Quốc thường ăn dưa củ cải kèm với Mì tương đen.
Có thể tạm gọi là thịt cua giả. Vì thật ra món này chế biến từ cá hỗn tạp, bột, và hương vị thịt cua. Hoặc nếu có thịt cua thì chỉ rất ít. Ở Hàn Quốc thì P được biết món này thực sự có thịt cua trong đó. Tùy theo “nồng độ”thịt cua trong đó mà giá thành sẽ cao hơn. Ví dụ loai 50% tất nhiên sẽ rẻ hơn nhiều so với loại 90% . Các bạn có thể đọc ở ngoài bao bì.
Xi rô ngô
Tiếng Hàn: 물엿 (Mul Yeot)
Tiếng Anh: Corn Syrup
Xi rô ngô làm từ tinh bột ngô, thường được sử dụng trong ướp thịt, pha nước sốt, xào…ít bị khét và tốt cho sức khỏe hơn là dùng đường cát trắng.
Bột bánh xèo HQ. 부침가루 (MuJimGaRu)
Cooking wine Mirim. Vị ngọt ngọt. ƯỚp thịt sẽ thơm và mềm.
Bột cá Bonito Soup Stock. Dùng để nấu món Nhật như súp Miso, nước lèo cho mì Udon…
Văn hóa ẩm thực Việt- Hàn
Cả người Hàn Quốc và người Việt nam đều ăn cơm làm từ gạo và sử dụng đũa (chủ yếu là đũa sắt). Đến bữa ăn, cả gia đình cùng tập trung và ăn chung đĩa thức ăn ( người Nhật ăn riêng). Những người ít tuổi hơn mời người lớn tuổi hơn ăn trước và sau khi người lớn tuổi bắt đầu thì người nhỏ tuổi hơn mới bắt đầu ăn.
Ngoài những điểm chung nói trên thì có rất nhiều điểm khác biệt trong văn hóa ăn uống thường ngày của hai nước. người Hàn Quốc thường ăn cơm nấu từ gạo nếp trộn với gạo tẻ nên cơm rất dẻo, họ còn có cơm ngũ cốc “okok bap” (cơm nấu từ 5 loại ngũ cốc). Trong khi đó, người Việt nam thường chỉ ăn cơm nấu bằng gạo tẻ và cơm khô hơn một chút, thường vào những ngày đặc biệt thì mới nấu cơm nếp.
Ở Hàn Quốc có rất nhiều loại gia vị, đặc biệt, họ thường sử dụng bột ớt và có loại nước tương “kan chang”. Ở Việt Nam, gia vị không thật nhiều nhưng có một loại nước chấm đặc biệt là nước mắm và để cho món ăn có hương vị thơm ngon hơn, khi nấu ăn có nhiều loại rau, củ, quả cho thêm vào như: hành, nghệ, cà chua, dứa, chuối…Ở Hàn Quốc, kim chi có nhiều loại đa dạng và thường ăn cùng trong bữa cơm. Còn ở Việt Nam, trong bữa ăn nhất định phải có rau tươi, có thể chế biến nhiều món như: rau luộc, rau xào, canh rau… và cũng có một số món tương tự như kim chi: dưa muối, cà muối, hành muối…
Vào mùa hè, khi ăn cả người Hàn Quốc và người Việt Nam đều uống nước nhưng cách thức cũng khác nhau. Người Hàn Quốc vừa ăn vừa cầm cốc nước lạnh và uống. Người Việt Nam thì thường chan nước rau luộc hoặc canh vào bát và ăn cùng với cơm, hoặc sau khi ăn sẽ chan nước canh vào bát, uống riêng.
Người Hàn Quốc sử dụng cả đũa và thìa nên không cần cầm bát lên. Người Việt mình thì thường chỉ sử dụng đũa nên dù ăn cơm hay canh cũng cầm bát lên ăn. Vì vậy, cái trôn bát của mình thường cao để người ăn không bị nóng. Cũng vì việc sử dụng thìa, đũa mà người Hàn Quốc thường để thức ăn lên bàn, trong khi người Việt Nam thường để thức ăn vào mâm rồi có thể đặt trên bàn, trên chiếu, kể cả trên sàn nhà và ngồi ăn. Vẫn còn chuyện liên quan đến thìa, đũa nữa là khi ăn, người Hàn Quốc thường có cái để đặt thìa đũa lên, gọi là “sut ka rak bat schim” (숟가락 받침) còn người Việt thường để đũa trên mâm hoặc trên bát.
Sau khi ăn, người Hàn Quốc không bao giờ bỏ đi thức ăn thừa mà cất cẩn thận để sau đó ăn tiếp. Tại sao lại như vậy ? mấy chục năm trước người Hàn Quốc còn rất khó khăn, vì vậy họ đã hình thành tính tiết kiệm. Mặt khác, vì người Hàn Quốc thường ăn sáng ở nhà nên thức ăn còn lại hôm trước thường để ăn sáng hôm sau. Hiện nay, với cuộc sống hiện đại, người Hàn Quốc thường không đi chợ nhiều, họ thường đi một lần, mua rất nhiều thứ và để vào tủ lạnh nên tủ lạnh của họ thường rất to. Người Việt nam mình thì thường chỉ cất một số món vào trong tủ lạnh, các món rau hay canh thường ăn hết hoặc cho chó, mèo, hoặc bỏ đi. Có vẻ người Việt Nam mình lãng phí hơn người Hàn. Người Việt Nam thường hôm nào cũng đi chợ, mua những đồ tươi sống để nấu và không thích những thức ăn để lâu trong tủ lạnh. Và người Việt nam mình còn có cả thói quen ăn sáng ở ngoài nữa.
Sau khi ăn xong, cả người Hàn Quốc và người Việt thường có thói quen ăn hoa quả, gọi là tráng miệng. Sau đó, người Hàn Quốc thường uống một loại nước quế, hoặc cà phê còn người Việt nam mình lại hay uống trà.
Văn hóa ăn uống thường ngày không phải là vấn đề lớn nhưng nếu tìm hiểu một chút cũng thấy có nhiều thú vị. Nó cũng phần nào phản ánh những nét độc đáo của văn hóa hai nước Việt nam – Hàn Quốc.
Mì tương đen Jajang
– 2 vắt Mì Jajang (loaị mì này bên Mỹ chợ HQ như H-Mart nào cũng có, ở Vn thì P không rành mua ở đâu),
-Seafood mix 2 cup ( hoặc 200g thịt heo ba rọi)
-150g củ khoai tây lớn
-150g mướp xanh Zucchini
-150g bắp cải
-1/2 củ hành tây khoảng 100g xắt quân cờ vuông vuông,
Gia vi:
– 1 muỗng cafê Tỏi băm.
– 2 muỗng canh Tương Jajang,
– 2 muỗng canh dầu hào Oyster sauce
– 1 muỗng canh bột năng
Giai đoạn luộc mì:
nước sôi, 1 muỗng cafê dầu ăn. Mì đã để xã đá chừng nửa tiếng trước đó cho vào luộc chừng 5-7 phút, không đậy nắp. (Cẩn thạn giai đoạn nấu mì rất dễ bị trào). Xã mì lại qua nước lạnh để ráo nước. Mì nấu xong dể dính vào nhau nên thường xuyên dùng đũa xới đều. Chỉ nên luộc mì sớm nhất nửa tiếng trước khi ăn. Để lâu mì nở mềm, mất dần độ dai.
Bắc chảo cho 3 muỗng canh dầu ăn, lần lượt cho 1 muỗng cafê tỏi băm, rau củ vào xào đều. Kế tiếp cho Seafood mix. Nêm vào:
– 2 muỗng canh dầu hào
– phần tương jajang đã xào sơ hồi nãy vào.
Xào chừng vài ba phút thì cho 2 chén nước sôi 500ml vào nấu lửa riêu riêu chừng 10 phút.
Pha 1 muỗng canh bột năng hay bột bắp vào 3 muỗng canh nước cho vào chảo để tạo độ sánh cho nước sốt.
( Nếu dùng thịt ba roị thì cho thịt vào chảo chiên lên như làm tép mỡ, thịt vừa vàng thì vớt ra . Chỉ lấy phần thịt cho vào phần rau củ xào chung, lượt bỏ phần nước mỡ heo)
Bữa tối hôm đó là mì Jajang ăn kèm với Kimchi, và dưa cải muối.

Canh rong biển thịt bò
Đây là gói rong biển khô hiệu Hàn Quốc. Tên tiếng Hàn gọi là Mi-eot (미역)
Rong biển ngâm chừng 20 cho nở, rửa sạch , cắt ngắn vừa miệng ăn.
Cho 2 nước vào. Nấu lửa vừa cho sôi lại, hớt bọt. Nấu trong vòng 15 phút , cho vào nồi muỗng canh nước tương Hàn Quốc và 1 muỗng cafê dầu mè. Nấu riêu riêu đậy hí nắp thêm chừng 5 phút. Cuối cùng cho hành lá , tắt lửa. XONG





































