Nếu gọi là Trà Gừng thì cũng không đúng, có thể tạm gọi là Sirô Gừng. Tủ lạnh nhà P lúc nào cũng có trữ sẵn một hủ sirô Gừng để sẵn. Sirô Gừng pha với nước sôi để uống vào những ngày trời lạnh, giải cảm , trị ho (nhất là trị ho cho thằng nhóc tì ), giải rươụ ( Cho ông xã ) thì còn gì bằng. Ngoài ra P dùng Sirô Gừng nhiều trong nấu nướng, ướp thịt như thịt gà, thịt bò Bulgogi, thịt nướng HQ…
Nguyên liệu: – 150g Gừng – 300g đường cát vàng (Brown Sugar) – 100ml Rượu Soju – 200ml nước – 150ml Sirô Ngô (CornSirup) hoặc 150ml Mật ong.
Thực hiện:
Gừng xắt lạt mỏng, rửa sơ lại một lần nước lạnh rồi vớt ra.
Đợi 200ml nước sôi, cho gừng vào nấu 15 phút lửa nhỏ , đậy nắp.
Kế tiếp cho 300g ₫ường cát vàng, 100ml rượu Soju vào nấu tiếp 15 phút.
Bước cuối cùng là cho Sirô Ngô hoặc mật ong vào. Đun sôi thêm 10 phút nữa, khỏi đậy nắp, rồi tắt lửa. XONG
Đợi cho thật nguội , cho vào keo để tủ lạnh. Để được rất lâu.
Nếu uống dạng trà thì chỉ cần múc chừng hai muỗng canh pha với 200ml nước sôi.Bạn nào thích thì ăn thêm những lát gừng, không thì thôi. Các bạn có thể dùng sirô Gừng , khoảng 1-2 muỗng canh cho thêm vào công thức các món P đã giới thiệu trong các bài trước. Bò kho lạnh , Bulgogi, thịt nướng, Gà nấu nấm…
Tiếng Hàn Quốc : 간장 (Gan-jang) Tên tiếng Anh : Soy sauce Tiếng Đức : Soja Soße
Cũng như nước mắm là gia vị chính trong ẩm thực Việt thì nước tương(Gan-jang) là gia vị thiết yếu cho ẩm thực hàn. Như nước mắm thì nước tương cũng có nhiều hiệu khác nhau, nhiều nồng độ, nhiều nồng độ. Tùy vào cách chế biến món ăn như thế nào, dùng để nấu súp, kho , hay xào, ăn sống. Nhưng đối với P , P dùng nước tương ” đa chức năng” để đỡ viêm màng túi. Vì những gia vị Hàn Quốc không phải rẻ.
Tương ớt Tiếng Hàn : 고추장 ( Go-ju-jang) Tiếng Anh: Red Chili Pepper Paste
Một nhân tố quan trọng, có mặt trong hầu hết các món ăn Hàn Quốc mà ta không thể không nhắc tới chính là tương ớt Go ju jang. Tương ớt Go ju jang không chỉ đơn giản là Ớt đem đi xay ra là tương mà nó là cả một quá trình thực hiện, ủ lên men công phu từ mầm lúa mạch, đậu tương , ớt khô, muối , nước…
Tương đậu nành hay còn gọi là tương Miso
Tiếng Hàn: 된장 (Doen-jang), Miso là cách gọi theo tiếng Nhật
Tiếng Anh : Soybean Paste
Ở Hàn Quốc các bà , các cụ thường tự làm tương đậu nành. Nên món tương này từ vùng sang vùng, từ nhà này sang nhà khác ₫ều có hương vị đặc trưng riêng . Giống như người Việt xa quê nhớ món canh chua cá kho tộ của mẹ nấu thì người Hàn Quốc xa quê sẽ nhớ món canh tương đậu Doen Jang của gia đình mình. Ngày nay vô siêu thị ta kiếm được rất nhiều hiệu chủng loai tương Doen Jang nhưng P vẫn nhớ nhất món tương đậu của mẹ chồng tự làm.
Tảo biển TIếng Hàn : 다시마 (Da-shi-ma) Tiếng Anh: Dried Kelp
Loại tảo biển này có thể ví như phổ tai việt nam. Nhưng tất nhiên họ không dùng để nấu chè mà họ kết hợp với Củ cải và cá cơm để nấu nước lèo căn bản cho vài món canh,bún, lẩu… Thường cho nồi nước 2lít chỉ cần bẻ ra miếng nhỏ khoảng 7x7cm, nấu trong vòng 10-15 phút là vớt ra bỏ, chỉ lấy nước.
Mắm tép Hàn Quốc Tiếng Hàn: 새우젓 (Se-u-jot) Tiếng Anh: Salted shrimp sauce. Đến bây giờ như P được biết thì mắm tép chỉ sử dụng trong vài ba món. Thông thường nhất là người Hàn dùng mắm tép Se-u-jot cho vào hỗn hơp sốt muối dưa Kimchi. Ngoài ra họ cũng pha mắm tép với tỏi, đường, ớt bằm để làm nước sốt chấm thịt luộc, phá lấu giò heo.
Miếng Hàn Quốc Tiếng Hàn : 잡채 (Chap-chae) Tiếng Anh: Sweet Potato Noodle
Bột ớt Hàn Quốc Tiếng Hàn : 고추가루 ̣(Go Ju Ga ru) Tiếng Anh: Hot Chili Pepper Powder
Lá rong biển để cuộn sushi, Kimbap.Tiếng Hàn: 김 (Kim)Tiếng Anh: Roasted Seaweed
Dầu ớt. Tiếng Hàn : 고추기름 ( Go ju gi reum), Tiếng Anh : Red Chili Oil
Rong biển .Tiếng Hàn: 미역 (Mi-eot), Tiếng Anh: Seaweed. Rong biển thường được bán dạng khô, trước khi nấu canh chỉ cần ngâm trong nước chừng 15 phút cho nở.Một nồi canh rong biển thì chỉ 20g rong biển dạng khô là nấu nở ra một nồi thật to. Ngoài ra người Hàn quốc còn dùng Rong biển trộn salad. Nhưng để ăn kiểu Salad thì người ăn phải thật sự ăn quen và yêu thích rong biển mới thấy ngon. Không thôi sẽ cảm thấy vị tanh rất khó chịu. Cách ngon nhất chế biến rong biển là nấu với thịt bò, rất ngon và bổ dưỡng.
Chả cá
Tiếng Hàn: 어묵 hoặc 오뎅
Tiếng Anh : Fish cake
Chả cá Hàn quốc ít nặng mùi cá hơn chả cá của người Việt mình vì trong đó thành phần bột hơi nhiều. Chả cá có nhiều hình dạng như dạng miếng, viên, khúc dài, dạng ống, hoặc fish cake mixed. Chế biến món này rất đơn giản như là xào, nấu canh, hoặc ăn chung với bánh gạo.
Bánh gạo , Tiếng Hàn : 떡볶이 (Ddot-bok-gi) Tiếng Anh: Rice cake. Bánh gạo có dạng thon dài như trong hình dùng cho món Ddot bok gi. Cũng có loai bánh gạp dạng miếng thì dùng nấu súp.
Tương đen Hàn Quốc Tiếng Hàn: 짜장 (Ja jang) Tiếng Anh: Black soybean paste Ngoài việc sử dụng món tương đen này cho món mì tương đen thì thật ra đến giờ P chưa ăn hoặc chưa biết thêm món nào có dùng tương này. Hiệu tương đen nổi tiếng nhất là hiệu Lion.
Dưa củ cải Tiếng Hàn: 단무지 (Dan-mu-chi) Tiếng Anh: Pickled Radish Trong siêu thị bán loai Dưa củ cải loai sợi để sử dụng trong món Kimbap, sushi. Dưa củ cải cũng có bán loai nguyên trái, hoặc đã xắt lát sẵn. Người Hàn Quốc thường ăn dưa củ cải kèm với Mì tương đen.
Thịt cua Surimi Tiếng Hàn: 게맛살 (Gae Mat sal) Tiếng Anh: Imitation Crab stick
Có thể tạm gọi là thịt cua giả. Vì thật ra món này chế biến từ cá hỗn tạp, bột, và hương vị thịt cua. Hoặc nếu có thịt cua thì chỉ rất ít. Ở Hàn Quốc thì P được biết món này thực sự có thịt cua trong đó. Tùy theo “nồng độ”thịt cua trong đó mà giá thành sẽ cao hơn. Ví dụ loai 50% tất nhiên sẽ rẻ hơn nhiều so với loại 90% . Các bạn có thể đọc ở ngoài bao bì.
Xi rô ngô Tiếng Hàn: 물엿 (Mul Yeot) Tiếng Anh: Corn Syrup
Xi rô ngô làm từ tinh bột ngô, thường được sử dụng trong ướp thịt, pha nước sốt, xào…ít bị khét và tốt cho sức khỏe hơn là dùng đường cát trắng.
Bột bánh xèo HQ. 부침가루 (MuJimGaRu)
Cooking wine Mirim. Vị ngọt ngọt. ƯỚp thịt sẽ thơm và mềm.
Bột cá Bonito Soup Stock. Dùng để nấu món Nhật như súp Miso, nước lèo cho mì Udon…
Cả người Hàn Quốc và người Việt nam đều ăn cơm làm từ gạo và sử dụng đũa (chủ yếu là đũa sắt). Đến bữa ăn, cả gia đình cùng tập trung và ăn chung đĩa thức ăn ( người Nhật ăn riêng). Những người ít tuổi hơn mời người lớn tuổi hơn ăn trước và sau khi người lớn tuổi bắt đầu thì người nhỏ tuổi hơn mới bắt đầu ăn.
Ngoài những điểm chung nói trên thì có rất nhiều điểm khác biệt trong văn hóa ăn uống thường ngày của hai nước. người Hàn Quốc thường ăn cơm nấu từ gạo nếp trộn với gạo tẻ nên cơm rất dẻo, họ còn có cơm ngũ cốc “okok bap” (cơm nấu từ 5 loại ngũ cốc). Trong khi đó, người Việt nam thường chỉ ăn cơm nấu bằng gạo tẻ và cơm khô hơn một chút, thường vào những ngày đặc biệt thì mới nấu cơm nếp.
Ở Hàn Quốc có rất nhiều loại gia vị, đặc biệt, họ thường sử dụng bột ớt và có loại nước tương “kan chang”. Ở Việt Nam, gia vị không thật nhiều nhưng có một loại nước chấm đặc biệt là nước mắm và để cho món ăn có hương vị thơm ngon hơn, khi nấu ăn có nhiều loại rau, củ, quả cho thêm vào như: hành, nghệ, cà chua, dứa, chuối…Ở Hàn Quốc, kim chi có nhiều loại đa dạng và thường ăn cùng trong bữa cơm. Còn ở Việt Nam, trong bữa ăn nhất định phải có rau tươi, có thể chế biến nhiều món như: rau luộc, rau xào, canh rau… và cũng có một số món tương tự như kim chi: dưa muối, cà muối, hành muối… Vào mùa hè, khi ăn cả người Hàn Quốc và người Việt Nam đều uống nước nhưng cách thức cũng khác nhau. Người Hàn Quốc vừa ăn vừa cầm cốc nước lạnh và uống. Người Việt Nam thì thường chan nước rau luộc hoặc canh vào bát và ăn cùng với cơm, hoặc sau khi ăn sẽ chan nước canh vào bát, uống riêng.
Người Hàn Quốc sử dụng cả đũa và thìa nên không cần cầm bát lên. Người Việt mình thì thường chỉ sử dụng đũa nên dù ăn cơm hay canh cũng cầm bát lên ăn. Vì vậy, cái trôn bát của mình thường cao để người ăn không bị nóng. Cũng vì việc sử dụng thìa, đũa mà người Hàn Quốc thường để thức ăn lên bàn, trong khi người Việt Nam thường để thức ăn vào mâm rồi có thể đặt trên bàn, trên chiếu, kể cả trên sàn nhà và ngồi ăn. Vẫn còn chuyện liên quan đến thìa, đũa nữa là khi ăn, người Hàn Quốc thường có cái để đặt thìa đũa lên, gọi là “sut ka rak bat schim” (숟가락 받침) còn người Việt thường để đũa trên mâm hoặc trên bát. Sau khi ăn, người Hàn Quốc không bao giờ bỏ đi thức ăn thừa mà cất cẩn thận để sau đó ăn tiếp. Tại sao lại như vậy ? mấy chục năm trước người Hàn Quốc còn rất khó khăn, vì vậy họ đã hình thành tính tiết kiệm. Mặt khác, vì người Hàn Quốc thường ăn sáng ở nhà nên thức ăn còn lại hôm trước thường để ăn sáng hôm sau. Hiện nay, với cuộc sống hiện đại, người Hàn Quốc thường không đi chợ nhiều, họ thường đi một lần, mua rất nhiều thứ và để vào tủ lạnh nên tủ lạnh của họ thường rất to. Người Việt nam mình thì thường chỉ cất một số món vào trong tủ lạnh, các món rau hay canh thường ăn hết hoặc cho chó, mèo, hoặc bỏ đi. Có vẻ người Việt Nam mình lãng phí hơn người Hàn. Người Việt Nam thường hôm nào cũng đi chợ, mua những đồ tươi sống để nấu và không thích những thức ăn để lâu trong tủ lạnh. Và người Việt nam mình còn có cả thói quen ăn sáng ở ngoài nữa.
Sau khi ăn xong, cả người Hàn Quốc và người Việt thường có thói quen ăn hoa quả, gọi là tráng miệng. Sau đó, người Hàn Quốc thường uống một loại nước quế, hoặc cà phê còn người Việt nam mình lại hay uống trà.
Văn hóa ăn uống thường ngày không phải là vấn đề lớn nhưng nếu tìm hiểu một chút cũng thấy có nhiều thú vị. Nó cũng phần nào phản ánh những nét độc đáo của văn hóa hai nước Việt nam – Hàn Quốc.